Bài giảng

Chủ đề 3: Phúc-âm của nước và Thánh-linh

[3-1] ( Giăng 8:1-12 ) Sự Cứu Chuộc Vĩnh Cửu

( Giăng 8:1-12 )
“Đức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve.  Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ.  Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông,  mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm.  Vả, trong Luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; - còn thầy, thì nghĩ sao? Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người. Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất. Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đương đứng chính giữa đó. Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa. 
"Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống..”
        
Chúa Jêsus đã nhận bao nhiêu tội lỗi?
Tất cả tội lỗi của thế gian

Chúa Jêsus ban cho chúng ta sự cứu chuộc vĩnh cửu. Ai trên thế gian cũng có thể được cứu, nếu anh/chị ấy tin Chúa Jêsus là Cứu Chúa của mình.Ngài cứu chuộc tất cả chúng ta. Nếu một tội nhân cảm thấy đau khổ vì tội lỗi của anh/chị ấy là vì người ấy không hiểu Chúa Jêsus  đã giải thoát họ ra khỏi tội lỗi bằng Báp-tem và sự chịu đóng đinh của Ngài. 
Chúng ta đều phải biết và tin vào sự huyền nhiệm của sự cứu rỗi. Chúa Jêsus đã xoá bỏ tất cả tội lỗi của chúng ta bởi  Báp-tem của Ngài. Ngài chịu sự phán xét vì mọi tội lỗi chúng ta bởi chịu chết trên Thập-tự-giá.
Bạn phải tin vào sự cứu rỗi của nước và Thánh Linh: là sự cứu chuộc vĩnh cửu cho tất cả tội nhân. Bạn phải tin tình yêu vĩ đại của Chúa Jêsus là Đấng sẵn sàng ban sự công chính cho bạn. Hãy tin những gì Ngài đã làm cho sự cứu rỗi của bạn tại sông Giô-đanh và trên Thập-tự-giá.
Chúa Jêsus cũng biết tất cả tội lỗi kín giấu của chúng ta. Một số người có quan niệm sai về tội lỗi. Họ nghĩ rằng có một số tội không thể được cứu. Nhưng Chúa Jêsus đã xoá bỏ tất cả tội lỗi, từng tội một của chúng ta.
Không còn một tội lỗi nào trong thế gian nữa vì Ngài đã xoá đi rồi. Bởi vì Ngài đã tẩy xóa tất cả tội lỗi trên thế gian, nên sự thật là không còn tội nhân nữa. Bạn có nhận biết Phúc-âm xoá bỏ tất cả tội lỗi, ngay cả tội lỗi trong tương lai của bạn không? Hãy tin nhận sự cứu rỗi này! Và qui sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời .
 
 
Người Đàn Bà Bị Bắt Gặp Phạm Tội Ngoại Tình
 
Bao nhiêu người phạm tội ngoại tình trên thế giới?
Tất cả mọi người
    
Trong Giăng 8, có một người đàn bà bị bắt quả tang vì tội ngoại tình và chúng ta đã biết bà ấy được Chúa Jêsus cứu như thế nào. Chúng ta thích được nhận ân điển mà bà ấy đã nhận. Sự thật chúng ta không thể phủ nhận là tất cả mọi người đang phạm tội ngoại tình trong đời sống của họ. Mọi người đều phạm tội ngoại tình trong lòng. 
Nếu không phải như thế là vì chúng ta vẫn thường mắc tội ngoại tình nhưng chúng ta không nghĩ là như thế. Tại sao? Vì chúng ta sống với quá nhiều tội ngoại tình trong đời sống của chúng ta.
Sau khi tôi đọc câu chuyện trong Giăng 8, tôi suy nghĩ rằng không có ai  trong vòng chúng ta là không phạm tội ngoại tình như bà ấy. Tất cả chúng ta đều có. Chúng ta chỉ giả vờ như không có mà thôi.
Các anh chị nghĩ rằng tôi sai phải không? Không, tôi không sai. Tất cả mọi người trên trái đất đều đã phạm tội đó. Họ phạm tội ngoại tình khi nhìn những cô gái trên đường bằng ý nghĩ hoặc hành động, trong mọi lúc, trong mọi nơi v.v...
Chỉ có điều là họ thật sự không nhận biết điều họ đang làm. Có rất nhiều người không nhận biết điều đó cho đến khi chết, là họ đã phạm tội ngoại tình trong cuộc sống mình rất nhiều. Chỉ vì họ không bị bắt gặp giống như chúng ta cũng không bị bắt gặp bao giờ. Tất cả mọi người phạm tội đó trong tâm trí hoặc bằng hành động của họ. Điều này không phải là một phần đời sống của chúng ta sao?
Bạn có thấy khó chịu không? Nhưng đó là sự thật, chúng ta chỉ không thể nói vì chúng ta cảm thấy ngượng. Tôi tin con người luôn luôn phạm tội ngoại tình nhưng không thấy rõ đấy thôi.
Người ta cũng phạm tội ngoại tình trong linh hồn. Chúng ta, những người được tạo dựng bởi Đức Chúa Trời, sống trên thế gian này trong tình trạng không nhận ra  mình đang phạm tội ngoại tình thuộc linh. Sự tôn thờ thần khác là tội ngoại tình thuộc linh vì Đức Chúa Trời là Chồng duy nhất của tất cả mọi người.
Người đàn bà bị bắt gặp khi phạm tội là một con người xác thịt, giống như những người còn lại của chúng ta và bà ấy được nhận ân điển do Chúa ban cho giống như chúng ta đã nhận sự cứu rỗi. Nhưng những Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và người Pha-ri-si đã bắt bà đứng giữa họ, chỉ tay về phía bà và khiển trách bà như thể họ là quan tòa rồi còn muốn ném đá vào người đàn bà ấy. Họ cười nhạo và phán quyết như chính họ là người trong sạch và như thể chính họ không bao giờ phạm tội ngoại tình.
Người theo đạo Cơ-đốc biết chính họ là người phạm tội và không xét đoán người khác trước mặt Chúa, vì họ biết họ cũng phạm tội ngoại tình trong cuộc sống và nhận được ân điển do Chúa ban cho tất cả chúng ta. Chỉ những ai nhận ra chính mình là tội nhân, người ấy có thể nhận sự cứu rỗi trước Chúa.
 
 
Ai Nhận Ân Điển Của Chúa?
 
Ai nhận ân điển của Chúa?
Người không xứng đáng

Một người sống trong sạch và không phạm tội ngoại tình nhận được ân điển của Chúa ban hay một người không xứng đáng, thừa nhận chính họ đầy tội lỗi thì nhận được ân điển của Ngài? Một người nhận ân điển là ngươi nhận ân điển dư dật trong sự cứu rỗi của Ngài. Những người không thể tự giúp mình, những người yếu đuối và không tự lực sẽ được nhận sự cứu rỗi của Chúa. Họ là những người ở trong ân điển của Chúa.
Bất cứ người nào nghĩ rằng chính mình không phạm tội sẽ không thể nhận được sự cứu rỗi. Làm thế nào họ có thể nhận ân điển của Chúa khi họ không phạm tội? 
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si dẫn người đàn bà phạm tội ngoại tình đến trước Chúa Jêsus, để ngồi giữa họ và hỏi Ngài: “Thưa thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang về tội tà dâm rất nhiều lần. Còn thầy, thì nghĩ sao?”  Tại sao họ dẫn người đàn bà ấy đến trước Chúa Jêsus và thử Ngài ?
Chính họ cũng phạm tội ngoại tình rất nhiều lần, nhưng họ muốn phán quyết và giết người đàn bà ấy và rồi đổ tội cho Ngài.
Chúa Jêsus biết ý định của họ và biết rõ về người phụ nữ này. Vì thế Ngài đã nói “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.” Nghe vậy, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi nhất đến người nhỏ nhất. Chỉ còn lại một mình Chúa Jêsus và bà ấy. 
Những người bỏ đi hết là thầy tế lễ, người Pha-ri-si và các thầy thông giáo. Họ muốn phán quyết người đàn bà phạm tội tà dâm ấy như thể chính họ không phải là người phạm tội. 
Chúa Jêsus đã tuyên bố tình yêu của Ngài cho thế gian này. Ngài là thần của tình yêu. Chúa Jêsus ban lương thực cho con người và làm người chết sống lại, làm con trai của quả phụ sống lại, kêu La-xa-rơ sống lại, chữa bệnh cho những người phung, và ban phép lạ cho người nghèo. Và Người đã xoá bỏ tội lỗi của tất cả những người phạm tội và ban ơn cứu rỗi cho họ.
Chúa Jêsus yêu chúng ta. Ngài là Đức Chúa Trời quyền năng, Đấng có thể làm bất cứ điều gì, nhưng các thầy tế lễ và người Pha-ri-si nghĩ rằng Ngài là kẻ thù của họ. Đó là lý do họ kéo bà ấy đến trước Chúa Jêsus và thử Ngài. 
Họ hỏi “Lạy Chúa, trong Luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; - còn thầy, thì nghĩ sao?” Họ nghĩ rằng Ngài sẽ nói đồng ý ném đá vào bà ấy. Tại sao? Nếu chúng ta phán quyết theo Luật pháp của Đức Chúa Trời, mỗi người phạm tội ngoại tình phải bị ném đá cho đến chết và không có ngoại lệ.
Tất cả phải bị ném đá và bị rơi vào hoả ngục. Tiền công của tội lỗi là sự chết. Tuy nhiên, Chúa Jêsus không bảo họ ném đá người đàn bà ấy, mà Ngài nói “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.” 
 
Tại sao Chúa truyền 613 điều luật cho chúng ta.
Để chúng ta nhận ra chúng ta là tội nhân.

Luật pháp nói về sự thạnh nộ. Chúa là Thánh nên Luật pháp cũng thánh. Thánh luật này được truyền cho chúng ta qua 613 điều luật. Lý do Chúa truyền Luật pháp là để cho chúng ta thấy rõ rằng chúng ta là những tội nhân: tức là chúng ta chưa hoàn thiện.
Điều này dạy chúng ta rằng chúng ta phải nhìn vào ân điển của Chúa để nhận được sự cứu rỗi. Nếu chúng ta không hiểu rõ và chỉ suy nghĩ theo nghĩa đen của nó thì chúng ta chắc chắn bị ném đá chết như người đàn bà phạm tội kia.
Các Thầy Tế Lễ, người Pha-ri-si và có thể cả chúng ta nữa đều không biết lẽ thật về Luật pháp của Chúa nên nghĩ rằng có thể ném đá vào người đàn bà ấy. Ai có thể ném đá vào người đàn bà yếu đuối ấy? Tuy bà ấy bị bắt quả tang mắc tội ngoại tình, nhưng bất kì ai trong thế giới này điều không thể ném đá vào người đàn bà ấy.
Nếu bà ấy và mỗi người chúng ta bị phán quyết theo Luật-pháp, tất cả chúng ta và bà ấy có lẽ đều phải nhận sự phán quyết nặng nề. Nhưng Chúa Jêsus đã cứu chúng ta là những tội nhân thoát khỏi tội lỗi và sự phán xét rồi. Nếu Luật-pháp của Chúa được áp dụng chính xác theo từng câu từng chữ thì ai trong chúng ta còn sống? Mọi người đều bị sa hoả ngục thôi.
Các thầy tế lễ và người Pha-ri-si chỉ biết luật pháp theo nghĩa đen. Nếu luật pháp của Chúa được áp dụng chính xác, chắc chắn sẽ giết họ như những người bị họ phán quyết. Luật-pháp của Chúa được truyền cho con người để họ có thể hiểu được tội lỗi của mình, nhưng họ đã đau khổ khi gây nên tội vì họ đã hiểu sai và áp dụng sai.
Các thầy tế lễ và người Pha-ri-si hiện nay, trong Kinh Thánh, chỉ biết luật pháp theo nghĩa đen, họ phải hiểu theo ân điển, sự công bình và lẽ thật của Đức Chúa Trời, họ phải học Phúc-âm của sự cứu rỗi để được cứu.
Người Pha-ri-si nói “trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; - còn thầy, thì nghĩ sao?” Họ vừa hỏi vừa cầm đá chắc trong tay. Họ nghĩ chắc chắn rằng, Chúa Jêsus sẽ không nói bất cứ gì khác hơn là về điều đó. Họ chờ đợi Chúa Jêsus rơi vào bẩy của họ.
Nếu Chúa Jêsus đã  phán quyết theo luật pháp thì Ngài cũng bị ném đá. Mục đích của họ là ném đá vào cả hai người - người đàn bà phạm tội và Chúa Jêsus.- Nếu Chúa Jêsus đã nói không ném đá vào bà ấy thì có lẽ họ nói rằng Chúa Jêsus đã phá bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời và cũng ném đá vào Ngài vì sự phạm thượng đó. Thật là một âm mưu kinh khiếp!
Nhưng Chúa Jêsus cúi xuống và viết trên đất bằng ngón tay và họ tiếp tục hỏi Ngài. “Ngài nghĩ sao? Ngài viết gì trên đất? Xin trả lời chúng tôi. Ngài nói gì?” Họ chỉ tay vào Chúa Jêsus và cứ quấy rối Ngài.
Chúa Jêsus đứng lên và nói rằng: Ai trong vòng các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào bà ta. Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.  Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước cho đến người cuối cùng. Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà vẫn đương đứng trước mặt Ngài.
 
 
“Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.”
 
Tội lỗi được chép ở đâu?
Trong tấm lòng và trong Sổ Việc Làm

Chúa Jêsus nói với họ, “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.” và Ngài tiếp tục viết trên đất. Từng đôi người lớn tuổi bắt đầu đi trước. Những người Pha-ri-si già, có thể là những người đã phạm nhiều tội đi trước, những người trẻ cũng rời đi. Chúng ta hãy nghĩ, Chúa Jêsus đang đứng ở giữa chúng ta và chúng ta đang đứng chung quanh người đàn bà ấy. Nếu Chúa Jêsus nói với chúng ta rằng ai trong sạch thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi thì chúng ta làm sao?
Chúa Jêsus đã viết gì trên đất? Đức Chúa Trời viết tội lỗi chúng ta trong hai chỗ khác nhau.
Thứ nhất, Ngài viết tội chúng ta trong tấm lòng chúng ta.
Giê-rê-mi 17:1 chép “Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó, và trên sừng những bàn thờ các người” (Giê-rê-mi 17:1).
Chúa nói rằng Giu-đa là người đại diện chúng ta. Những tội lỗi của con người đã được chép bằng bút sắt, bằng kim cương, được viết trong lòng chúng ta. Chúa Jêsus cúi xuống và viết trên đất rằng tất cả con người là tội nhân.
Đức Chúa Trời biết rằng chúng ta phạm tội và Chúa ghi những tội lỗi trong lòng chúng ta. Trước nhất, Chúa ghi những việc làm và tội lỗi chúng ta phạm vì chúng ta luôn yếu đuối trước Luật pháp. Tại vì tội lỗi được ghi trong lòng nên chúng ta thấy rõ chúng ta là những tội nhân khi chúng ta nhìn vào Luật pháp của Chúa. Từ khi Ngài ghi chúng vào lòng và lương tâm chúng ta, chúng ta biết rằng chúng ta là những tội nhân trước Ngài.
Và Chúa Jêsus cúi xuống hai lần để viết trên đất. Kinh Thánh nói rằng tất cả tội lỗi chúng ta cũng được ghi trong Sổ Việc Làm trước Đức Chúa Trời (Khải huyền 20:12). Tên và tội lỗi của mọi người được ghi trong Sổ Việc Làm và tội lỗi cũng được ghi trong lòng con người. Tội lỗi chúng ta được ghi hai lần trong Sổ Việc Làm và trong lòng chúng ta.
Những tội lỗi bị ghi trong lòng con người, trẻ hoặc già. Đó là lý do họ đã không làm gì cả để khỏi bị hỏi tội của họ trước Chúa. Họ muốn ném đá vào người đàn bà yếu đuối trước Chúa.
 
Khi nào tội chúng ta được xóa trong hai nơi?
Khi chúng ta nhận được sự cứu rỗi từ nước và huyết của Chúa Jêsus vào lòng .

Thật vậy, khi bạn nhận sự cứu rỗi của Ngài, tất cả tội lỗi của bạn trong Sổ Việc Làm được xoá bỏ và tên bạn sẽ được ghi trong Sổ Sự Sống. Tên người nào được ghi trong Sổ Sự Sống thì được lên Thiên Đàng. Hành động tốt của họ, cái gì họ đã làm trên thế gian này vì nước của Đức Chúa Trời và vì sự công chính của Chúa đều được ghi trong Sổ Sự Sống. Và họ được lên Thiên Đàng. Những ai được ra khỏi tội lỗi của họ thì sẽ được vào nơi vĩnh cửu
Hãy nhớ rằng tội lỗi của mỗi người được ghi ở hai chỗ, cho nên không ai có thể lừa gạt Chúa, không có người không phạm tội và không phạm tội ngoại tình trong lòng mình. Chúng ta đều là tội nhân và chúng ta đều không hoàn thiện.
Những người không nhận sự cứu rỗi của Chúa Jêsus trong lòng thì chắc chắn sẽ chết vì tội lỗi của họ. Họ không tự tin. Họ sợ Đức Chúa Trời và những người khác vì tội lỗi của họ. Nhưng ngay khi họ nhận Phúc-âm của sự cứu rỗi từ nước và Thánh Linh vào trong lòng họ, tất cả tội lỗi đã ghi trong lòng và trong Sổ Việc Làm được xoá bỏ. Họ thoát khỏi tất cả tội lỗi của họ.
Có Sổ Sự Sống trên Thiên Đàng. Trong Sổ Sự Sống, tên của người tin sự cứu rỗi từ Phúc-âm nước và Thánh Linh được ghi trong Sổ Sự Sống và họ sẽ được lên Thiên Đàng. Họ lên Thiên Đàng không vì họ không phạm tội ở thế giới này mà vì họ được thoát khỏi tội lỗi do tin vào sự cứu rỗi linh hồn từ nước và Thánh Linh. Đó là “Luật pháp của đức tin” (Rô-ma 3:27).
Tín đồ Cơ-đốc, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và người Pha-ri-si đều là người phạm tội giống như người đàn bà bị phạm tội ngoại tình.
Thật ra, họ phạm tội vì đã giả vờ và tự dối mình như thể họ không phải là người phạm tội. Các vị lãnh đạo tôn giáo là kẻ cắp với những chấp nhận của lễ nghi. Họ là kẻ ăn cắp linh hồn, nói cách khác là đánh cắp sự sống.  Họ sợ giảng dạy cho người khác cách có thẩm quyền vì ngay chính họ cũng chưa hề được cứu rỗi. 
Đấy, tất cả con người đều là người phạm tội theo luật Chúa. Nhưng một người có thể trở nên công chính, không phải vì anh/ chị ấy không phạm tội mà vì anh/chi ấy đã được cứu khỏi tất cả tội lỗi. Những người như thế sẽ được ghi tên trong Sổ Sự Sống. Điều quan trọng là tên người ấy có được ghi vào Sổ Sự Sống hay không. Còn con người không thể vừa sống vừa không phạm tội trong suốt cuộc đời họ, nhưng tất cả tội lỗi cần phải được bôi xóa để được ghi tên vào Sổ Sự Sống
Vấn đề là bạn có được lên Thiên Đàng hay không đều nhờ vào đức tin của bạn có tin vào Phúc-âm thật hay không. Chúng ta có nhận ân điển của Đức Chúa Trời hay không phụ thuộc vào việc bạn có nhận ơn cứu rỗi của Chúa Jêsus hay không. Điều gì đã xảy đến cho người đàn bà bị bắt ? Bà ấy đã quỳ trên đôi đầu gối mình và nhắm mắt lại, bởi vì  bà ấy biết mình phải chết. Có lẽ bà đã khóc và ăn năn. Con người trở nên chân thật với chính họ khi đối diện với sự chết.
 “Lạy Chúa, đáng lẽ con phải bị chết. Xin Ngài cứu linh hồn và che chở con vào trong đôi tay của Ngài. Xin hãy thương xót con, xin hãy thương xót con, lạy Chúa!”
Bà ấy cầu xin tình yêu thương của Chúa Jêsus để được tha tội, “Lạy Đức Chúa Trời, nếu Ngài phán xét con, con sẽ bị chết, và nếu Ngài nói rằng con không có tội thì tội lỗi của con sẽ được xoá bỏ. Tất cả nhờ ơn cứu rỗi của Ngài” có lẽ bà ấy đã nói như thế. Bà đã xưng nhận mọi điều với Chúa Jêsus.
Bà bị dẫn đến trước Chúa Jêsus nhưng không nói “Con không sai. Xin Ngài tha thứ tội ngoại tình của con” Bà ấy đã nói “Xin cứu con thoát khỏi tội lỗi của con. Nếu Ngài xoá bỏ tội của con, con sẽ được cứu. Nếu không, con sẽ bị sa hỏa ngục. Con cần sự cứu rỗi của Ngài. Con cầu xin tình yêu thương của Chúa và con xin Ngài thương xót.” bà đã nhắm mắt và thú nhận tội lỗi của bà ta.
Và Chúa Jêsus hỏi bà ấy,“Những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?” Bà ấy đáp lời, “Lạy Chúa. không ai hết” Và Chúa Jêsus nói với bà ấy “Ta cũng không định tội ngươi” Chúa Jêsus  không lên án bà ấy vì Ngài đã xoá bỏ tội lỗi của bà ấy bằng sự cứu chuộc của Ngài ở sông Giô-đanh, và bà ấy đã nhận sự cứu rỗi. Và bây giờ nhờ Chúa Jêsus, bà ấy không phải bị phán xét vì tội lỗi của bà ấy.
 
 
Chúa nói: " Ta cũng không định tội ngươi"
 
Bà ấy có bị Chúa định tội không?
Không

Người đàn bà này đã được ban ơn cứu rỗi của Chúa Jêsus. Bà được xoá bỏ tất cả tội lỗi của mình. Chúa Jêsus nói rằng Ngài đã giải thoát tất cả tội lỗi của chúng ta rồi và chúng ta đều trở nên người công chính.
Ngài nói với chúng ta như thế trong Kinh Thánh. Ngài chết thay tội chúng ta trên Thập-tự-giá,  Ngài đã xoá bỏ tội lỗi bằng Báp-tem ở sông Giô-đanh. Ngài nói với chúng ta một cách chắc chắn rằng Ngài cứu tất cả mọi người tin vào sự cứu chuộc của Ngài bởi Báp-tem và sự đoán xét trên Thập-tự-giá. Tất cả chúng ta cần phải tin Lời Chúa và nắm giữ lời Ngài. Nhờ đó, tất cả chúng ta  sẽ được  ban cho sự cứu rỗi.
 “Đức Chúa Trời ôi, con không có giá trị trước Ngài. Con không có bất cứ điều tốt nào. Con không có gì cả ngoài tội lỗi. Nhưng con tin Chúa Jêsus là Chúa của sự cứu rỗi của con. Ngài gánh hết tất cả tội lỗi của con ở sông Giô-đanh và chịu chết trên Thập-tự-giá, Ngài xoá bỏ tất cả tội lỗi của con bằng sự cứu chuộc qua Báp-tem và huyết của Ngài. Con tin Ngài, lạy Chúa.”
Đây là phương cách bạn được cứu, Chúa Jêsus không lên án chúng ta. Ngài ban cho chúng ta quyền làm con của Ngài: ban cho ai tin nhận vào sự cứu rỗi của nước và Thánh Linh. Ngài cất tất cả tội lỗi của họ và gọi họ là người công chính.
Bạn thân mến, Người đàn bà ấy đã được cứu. Bà phạm tội ngoại tình, nhưng đã được phước bởi sự cứu rỗi của Chúa Jêsus. Chúng ta cũng được phước như thế. Bất cứ ai biết tội lỗi và cầu xin tình yêu thương của Đức Chúa Trời, tin vào sự cứu rỗi từ Phúc-âm nước và Thánh Linh trong Chúa Jêsus, có thể nhận được sự ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Những ai nhận tội lỗi của họ trước Đức Chúa Trời sẽ được cứu, nhưng những ai phạm tội và không nhận rõ tội lỗi của mình thì không thể nhận được ơn cứu rỗi.
 Chúa Jêsus đã cất tội lỗi của thế gian (Giăng 1:29). Bất cứ người phạm tội nào trên thế giới đều cũng có thể được cứu, nếu anh/chị ấy tin Chúa Jêsus. Chúa Jêsus  nói với người đàn bà phạm tội “Ta cũng không định tội ngươi” Chúa Jêsus không lên án bà ấy vì tất cả tội lỗi của bà ấy đều thuộc về Ngài thông qua báp-tem của Ngài. Ngài đã xoá bỏ tội lỗi chúng ta rồi và Ngài chịu tội thay cho chúng ta.
 
 
Chúng Ta Phải Được Chuộc Tội Trước Chúa Jêsus
 
Điều gì tốt hơn,tình yêu của Chúa hay sự phán xét?
Tình yêu của Chúa.

Người Pha-ri-si cầm đá trong tay cũng giống như những người lãnh đạo tôn giáo ngày nay giải thích Luật pháp theo nghĩa đen. Họ tin rằng vì Luật pháp ghi là nếu phạm tội ngoại tình thì người phạm tội phải bị ném đá cho đến chết. Họ liếc nhìn các cô gái với con mắt thèm muốn nhưng họ cho rằng đó không phải là phạm tội ngoại tình. Họ không thể nhận sự cứu rỗi. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si là người đạo đức của thế gian này. Họ không phải là người Chúa Jêsus kêu gọi. Họ không bao giờ nghe lời Chúa “Ta cũng không định tội ngươi.”
Chỉ người đàn bà bị bắt vì tội ngoại tình nghe được lời nói đó. Nếu bạn trung thực trước Ngài, bạn cũng có thể được ân điển như bà ấy. “Lạy Chúa! Con không muốn, nhưng con phạm tội ngoại tình suốt đời. Con nghĩ con không phạm tội vì hàng ngày con phạm tội rất nhiều lần”
Khi chúng ta sống theo luât pháp và khi chúng ta là tội nhân chúng ta phải bị chết; hãy trung thực xưng tội trước Chúa và hãy cầu nguyện xin được ban ơn cứu rỗi, hãy nói “Lạy Chúa! Xin cứu con!” Chúa sẽ ban ơn cứu rỗi cho chúng ta.
Qua tình yêu của Chúa Jêsus, Phúc-âm của nước và Thánh Linh đã chiến thắng sự phán xét công bằng của Chúa. “Ta cũng không định tội ngươi” Ngài không lên án chúng ta. Ngài nói “Con được cứu”. Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, là Chúa yêu thương. Ngài giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi của thế gian.
Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời của sự công bình và là Đức Chúa Trời của tình thương yêu. Tình thương yêu của Phúc-âm nước và Thánh Linh vĩ đại hơn sự phán xét của Chúa.
 
 
Có Phải Tình Yêu Của Chúa Vĩ Đại Hơn Sự Phán Xét Của Ngài
 
Tại sao Chúa cứu tất cả chúng ta?
Bởi vì tình yêu của Ngài vĩ đại hơn sự phán xét.
 

Nếu Đức Chúa Trời đòi hỏi sự phán xét để hoàn thành sự công bình của Ngài thì Ngài sẽ phán quyết mọi người phạm tội và đày họ xuống địa ngục. Nhưng vì tình yêu của Đức Chúa Trời, là tình yêu để cứu chúng ta ra khỏi sự xét đoán thì vĩ đại hơn nên Đức Chúa Trời đã ban Con Một của Ngài là Đức Chúa Jêsus đến với chúng ta. Chúa Jêsus gánh tất cả tội lỗi của chúng ta trên Ngài và chịu sự xét đoán cho tất cả chúng ta. Bây giờ bất cứ người nào tin Chúa Jêsus, là Chúa Cứu thế, thì trở thành con của Ngài và thành người công chính. Vì tình yêu Chúa vĩ đại hơn sự xét đoán của Chúa, Ngài cứu tất cả chúng ta.
Chúng ta phải cám ơn Đức Chúa Trời vì Ngài không phán xét chúng ta bằng sự công bình của Ngài. Như lời Chúa Jêsus nói với các thầy thông giáo, người Pha-ri-si và các môn đồ của họ. "Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ.  (Ma-thi-ơ 9:13). Vì ta đến không phải gọi người công chính mà là gọi người có tội ăn năn. 
Chúa muốn lòng thương xót và sự hiểu biết về Chúa hơn là của tế lễ. Một số người giết bò hoặc dê mỗi ngày rồi mang đến trước Đức Chúa Trời và cầu nguyện “Lạy Đức Chúa Trời! Xin tha thứ tội lỗi mỗi ngày của con!”. Đức Chúa Trời không muốn của tế lễ nhưng Ngài muốn thấy đức tin của chúng ta trong sự cứu chuộc bởi nước và Thánh Linh. Ngài muốn chúng ta được cứu và được giải thoát khỏi tội lỗi. Ngài muốn ban tình yêu của Ngài cho chúng ta và Ngài muốn nhận đức tin của chúng ta. Bạn biết điều này không? Chúa Jêsus muốn ban sự cứu rỗi hoàn hảo của Ngài cho chúng ta.
Chúa Jêsus ghét tội lỗi, nhưng Ngài có tình yêu mãnh liệt với con người là vật thọ tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Ngài đã có quyết định trước khi sáng thế để làm cho chúng ta trở nên con cái của Đức Chúa Trời và Ngài gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta qua Báp-tem và huyết Ngài. Đức Chúa Trời đã tạo dựng ra chúng ta và đã cứu chúng ta, để bao phủ chúng ta trong Chúa Jêsus, và làm chúng ta trở nên con cái Ngài. Đó là tình yêu mà Ngài ban cho chúng ta, những tạo vật của Ngài.
Nếu Đức Chúa Trời chỉ phán xét chúng ta theo luật pháp của Ngài thì chúng ta chỉ là tội nhân đáng phải chết mà thôi.  Nhưng Ngài giải cứu chúng ta bởi Báp-tem và sự phán xét Con Ngài trên Thập-tự-giá.  Bạn tin điều này không? Chúng ta hãy xác định theo Kinh Thánh Cựu Ước. 
 
 
A-rôn Đặt Hai Tay Mình Trên Đầu Của Con Đê Đực
 
Ai là đại diện của nhân loại chuyển tội lỗi của dân I-sơ-ra-ên lên đầu con dê đực còn sống?
Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm

Tất cả tội lỗi của thế gian này được đền tội qua đức tin bằng mệnh lệnh trong Cựu Ước và là lễ báp têm trong Tân Ước. Trong Cựu Ước, tất cả tội lỗi suốt một năm của dân Y-sơ-ra-ên được xoá bỏ, khi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đặt hai tay mình trên đầu con dê đực không tì vít. 
“A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu con dê đực còn sống, xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc nầy mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng (Lê-vi ký 16:21).
Đây là phương pháp xoá tội trong thời Cựu Ước. Để được tha tội hàng ngày, một người phải đưa một con chiên hoặc con dê đực không tì vít đến trong Đền tạm và dâng trên bàn thờ. Người ấy đặt tay mình trên đầu nó và tội của người ấy được chuyển qua đầu con sinh tế. Rồi con sinh tế bị giết đi và huyết nó được thầy tế lễ bôi trên các sừng trên bàn thờ. Có 4 cái sừng trên 4 góc của bàn thờ. Những cái sừng này tượng trưng cho "Sách của Việc Làm" được giải thích trong Khải-huyền 20:12. Và huyết còn lại được rảy ra trên đất. Đất tượng trưng cho tấm lòng con người bởi vì con người được tạo dựng bởi bụi đất. Con người được tha tội bằng cách này. 
Tuy nhiên, họ không thể dâng của tế lễ chuộc tội hàng ngày. Vì thế Đức Chúa Trời cho phép họ dâng lễ chuộc tội hàng năm. Ngày đó là ngày thứ 10 của tháng thứ 7, Ngày Lễ Chuộc Tội. Ngày đó, đại diện dân I-sơ-ra-ên, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm lấy hai con dê và đặt tay trên đầu nó để chuyển tất cả tội lỗi của mọi người sang nó và dâng nó lên trước Chúa để chuộc tội cho dân I-sơ-ra-ên. 
 “A-rôn sẽ đặt hai tay mình trên đầu con dê đực còn sống, xưng tên các tội gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân I-sơ-ra-ên sẽ được chất lên đầu con dê ấy.”
Đức Chúa Trời  chỉ định A-rôn, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Y-sơ-ra-ên là người đại diện. Thay vì mỗi người phải đặt tay lên của lễ dâng, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm là người đại diện cho tất cả mọi người đặt tay của ông ấy lên đầu con dê còn sống để chuộc tất cả tội lỗi suốt một năm. 
Và Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm xưng tất cả tội lỗi của Y-sơ-ra-ên trước Đức Chúa Trời “Lạy Chúa, các con dân I-sơ-ra-ên của Chúa đã phạm tội. Chúng con đã tôn thờ những thần khác, đã phạm luật pháp của Ngài, đã gọi tên của Ngài vô cớ, đã tôn thờ thần khác và yêu chúng hơn Ngài. Chúng con đã không giữ ngày Sa-bát, không tôn trọng bố mẹ, giết người, phạm tội tà dâm và trộm cắp... Chúng con đã nuông chiều sự ghen tuông và sự cãi nhau…”  
Ông xưng tất cả tội lỗi: “Lạy Chúa, không chỉ dân sự của I-sơ-ra-ên mà con cũng không thể giữ đúng luật của Ngài. Để chuộc tội, con xin đặt hai tay lên đầu con dê đực này, và chuyển tất cả tội lỗi sang nó.”  Rồi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đặt hai tay của ông trên đầu con sinh tế và chuyển tất cả tội lỗi của dân sự qua trên đầu của con sinh tế. Mệnh lệnh hoặc sự đặt tay có ý nghĩa là ‘chuyển qua’ (Lê-vi ký 1:1-4, 16:20-21)
 
Làm thế nào sự tha tội được hoàn thành trong thời Cựu Ước?
Đặt hai tay lên đầu con sinh tế

Đức Chúa Trời  truyền cho dân Y-sơ-ra-ên nghi thức của lễ hy sinh thay cho tội lỗi của họ để họ có thể chuyển tất cả tội lỗi của họ và được cứu. Đặc biệt Ngài yêu cầu vật hy sinh phải không tì vít và sẽ bị chết thay cho con người. Sự cứu chuộc tội nhân là như vậy.
Vì thế, trong ngày Lễ Chuộc Tội, con sinh tế phải bị giết,  huyết nó được mang vào nơi Thánh và rảy ra trên nấp thi ân bảy lần. Dân sự Y-sơ-ra-ên được xóa hết tội lỗi suốt năm vào ngày thứ 10 tháng thứ 7.
Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đi vào nơi Thánh một mình để dâng tế lễ, mọi người tập họp bên ngoài và lắng nghe tiếng chuông vàng đánh bảy lần theo hành động bảy lần mà Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm rảy huyết trên nấp thi ân. Rồi thì mọi người vui mừng vì tội lỗi đã được chuộc. Tiếng của cái chuông vàng là tiếng của Phúc-âm Hoan Hỉ.
Đó không phải là việc Chúa Jêsus yêu một số người được chọn và chỉ cứu chuộc họ. Nhưng Chúa Jêsus cất tất cả tội lỗi thế gian một lần đủ cả qua lễ Báp-tem của Ngài. Ngài muốn giải cứu chúng ta một lần đủ cả. Tội lỗi chúng ta không thể được cứu chuộc hằng ngày, chúng ta được tẩy xóa tội lỗi của chúng ta một lần đủ cả. 
Trong Kinh Cựu Ước, sự chuộc tội thông qua một hệ thống và huyết của vật hiến tế.  A-rôn đặt hai tay lên đầu của con dê còn sống trước mặt dân sự I-sơ-ra-ên và kể ra tất cả tội lỗi mà con người đã phạm trong năm. Ông chuyển tội lỗi của dân sự trong cả một năm qua con dê trước mặt mọi người. Tội đó sẽ đi đâu? Nó được chuyển qua cho con dê đực.
Sau đó con dê bị dẫn đi bởi người có trách nhiệm. Con dê cùng tất cả tội lỗi của dân I-sơ-ra-ên trên nó bị đưa đến sa mạc không có nước và không có cỏ. Con dê sẽ lang thang dưới nắng mặt trời cháy bỏng và cuối cùng con dê đó bị chết thay tội cho dân I-sơ-ra-ên.
Đây là tình yêu của Đức Chúa Trời, tình yêu của sự cứu rỗi. Đây là phương pháp để họ được tha tội một năm trong thời đại đó. Nhưng ta đang sống thời đại Kinh Thánh Tân Ước đã hơn 2000 năm sau khi Chúa Jêsus đến thế gian này. Ngài đến đây để hoàn thành những lời tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước. Ngài đã đến để cứu chuộc tất cả tội lỗi của chúng ta. 
 
 
Chúa Jêsus Đến Để Cứu Tất Cả Chúng Ta
 
JÊSUS có nghĩa là gì?
Chúa cứu thế sẽ cứu con người thoát khỏi tội lỗi.

Hãy đọc Ma-thi-ơ 1:20-21“Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Đa-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh.  Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus , vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.” (Ma-thi-ơ 1: 20-21).
Đức Chúa Cha trên Thiên Đàng đã sử dụng thân thể của trinh nữ Ma-ri để đưa con Ngài đến thế gian này hầu xóa bỏ tất cả tội lỗi của con người. Chúa sai một thiên sứ đến với Ma-ri và nói: "Ngươi sẽ thụ thai và sanh một con trai và gọi Ngài là Jêsus." Câu này có ý Con đang đến thông qua Ma-ri trở thành Đấng Cứu Thế. Jêsus Christ nghĩa là Đấng sẽ cứu dân sự của Ngài, nói cách khác, Ngài là Cứu Chúa
Vậy Chúa Jêsus cứu chúng ta ra khỏi tội bằng cách nào?  Cách mà Chúa Jêsus xoá bỏ tất cả tội lỗi của thế gian là Lễ Báp-tem của Ngài ở sông Giô-đanh. Ngài chịu Báp-tem do Giăng Báp-tít và tất cả tội lỗi của thế gian được chuyển qua Chúa Jêsus. Hãy đọc Ma-thi-ơ 3:13-17.
 “Khi ấy, Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép báp-tem. Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-tem, mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài. Vừa khi chịu phép Báp-tem rồi, Đức Chúa Jêsus ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu, đậu trên Ngài. Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma-thi-ơ 3:13-17).
Chúa Jêsus đến với Giăng Báp-tít để chịu Báp-tem hầu cứu chúng ta thoát khỏi mọi tội lỗi. Ngài đi xuống nước và hạ thấp đầu Ngài trước Giăng. “Giăng, xin làm Báp-tem cho Ta. Chúng ta thực hiện để hoàn tất sự công chính. Vì Ta phải nhận lấy tất cả tội lỗi của thế gian và giải cứu tất cả tội nhân ra khỏi tội lỗi của họ. Ta cần cất bỏ tội của họ bằng Báp-tem. Làm Báp-tem cho Ta ngay bây giờ.”
Điều này thật đúng để ứng nghiệm sự công chính. Chúa Jêsus đã chịu Báp-tem bởi Giăng Báp-tít ở sông Giô-đanh và ngay từ lúc ấy, tất cả sự công chính của Đức Chúa Trời để cứu chuộc tội lỗi của chúng ta được ứng nghiệm. 
Đó là phương cách Ngài đã cất tất cả tội lỗi chúng ta. Tất cả tội lỗi của chúng ta đã chuyển sang Chúa Jêsus rồi, bạn hiểu điều này không?
Tin vào sự cứu rỗi qua Lễ Báp-tem của Chúa Jêsus và Thánh Linh thì sẽ được cứu.
 
Tất cả sự công chính được thực hiện thế nào?
Qua lễ Báp-tem.

Trước hết Đức Chúa Trời hứa với dân I-sơ-ra-ên rằng tất cả tội lỗi của con người sẽ được tẩy sạch do đặt tay lên con sinh tế khi dâng của lễ. Tuy nhiên, vì mỗi người không thể làm được nghi thức đó nên Đức Chúa Trời phong chức cho A-rôn làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm để người có thể dâng của tế lễ thay cho tất cả mọi người. Người chuyển tất cả tội lỗi hàng năm của họ lên đầu con sinh tế chỉ một lần đủ cả. Đó là sự khôn ngoan của Chúa và quyền năng của sự cứu rỗi. Đức Chúa Trời là sự khôn ngoan và kỳ diệu.
Đức Chúa Trời  sai Con của Ngài là Chúa Jêsus đến cứu toàn thế gian. Của lễ chuộc tội đã sẵn sàng. Bây giờ điều phải làm là một đại diện cho nhân loại đặt tay lên đầu Chúa Jêsus và chuyển tất cả tội lỗi của con người qua Ngài. Người đại diện đó là Giăng Báp-tít. Trong Ma-thi-ơ 11:11, Đức Chúa Trời đã sai người đại diện đến trước Chúa Jêsus. 
Đó là Giăng Báp-tít, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm cuối cùng của con người. Như có chép trong Ma-thi-ơ 11:11 “Trong những người bởi đàn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít.” Ông là đại diện duy nhất của nhân loại. Chúa sai Giăng như đại diện của tất cả nhân loại vì thế ông có thể làm Báp-tem cho Chúa Jêsus và chuyển tất cả tội lỗi của nhân loại qua Ngài. 
Nếu sáu tỷ người trên địa cầu đến với Chúa Jêsus và mỗi người phải đặt tay của mình lên Chúa Jêsus để chuyển giao những tội lỗi của mình, thì đầu của Ngài trở nên thế nào? Nếu hơn sáu tỷ người đặt tay lên Chúa Jêsus, đó là một cảnh tượng không mấy đẹp. Một số người đè mạnh trên đầu Ngài thì tất cả tóc của Ngài bị rụng hết. Vì vậy, Đức Chúa Trời khôn ngoan đã xức dầu cho Giăng làm đại diện và chuyển tất cả tội lỗi của thế gian lên Chúa Jêsus, một lần đủ cả.  
Ma-thi-ơ 3:13-17 chép “Khi ấy Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép Báp-tem". Lúc ấy, Chúa Jêsus 30 tuổi. Chúa Jêsus được cắt bì vào ngày thứ tám sau khi sanh ra. Và từ đó có rất ít ký thuật về Ngài cho đến khi Ngài 30 tuổi.
Lý do Chúa Jêsus phải đợi đến 30 tuổi là để trở nên Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Nước Trời để ứng nghiệm Kinh Thánh Cựu Ước. Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký Đức Chúa Trời truyền phán với Môi-se rằng Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm ít nhất 30 tuổi trước khi thi hành chức vụ. Chúa Jêsus là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Nước Trời. Bạn tin điều này không?  
Trong Kinh Thánh Tân Ước Ma-thi-ơ 3:13-14 chép, “Khi ấy, Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép báp-tem.  Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-tem, mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao!” Ai là đại diện của nhân loại? Giăng Báp-tít. Ai là đại diện của Thiên Đàng? Chúa Jêsus, Hai người đại diện đã gặp nhau. Ai cao trọng hơn? Chắc chắn là đại diện của Thiên Đàng.
Giăng Báp-tít đã rất dũng cảm khi kêu lên trước mặt những người lãnh đạo tôn giáo rằng “Hỡi loài rắn lục kia, ăn năn đi!” nhưng lại bất ngờ trở nên khiêm tốn trước mặt Chúa Jêsus “Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép Báp-tem, mà Ngài lại đến cùng tôi sao!”
Ngay lúc ấy, Chúa Jêsus nói “Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công chính như vậy.” Chúa Jêsus đã đến thế giới này để làm ứng nghiệm sự công chính của Đức Chúa Trời và nó được ứng nghiệm khi Ngài chịu Báp-tem bởi Giăng Báp-tít.
 “Vừa khi chịu phép Báp-tem rồi, Đức Chúa Jêsus ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu, đậu trên Ngài. 17 Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.”
 Điều gì đã xảy ra khi Ngài chịu Báp-tem?. Cổng Thiên Đàng được mở ra khi Ngài làm Báp-tem bởi Giăng Báp-tít để cất tất cả tội lỗi của thế gian.
“Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước Thiên Đàng bị hãm ép và kẻ hãm ép đó choán lấy” (Ma-thi-ơ 11:12).
Tất cả các tiên tri và Luật pháp của Đức Chúa Trời đã tiên tri về Giăng Báp-tít, “Từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, Nước Thiên Đàng bị hãm ép và kẻ hãm ép đó choán lấy”. Hể ai tin vào phép Báp-tem của Ngài thì có thể vào Nước Thiên Đàng mà không có một sự ngoại trừ nào. 
 
 
Ta Cũng Không Định Tội Ngươi
 
Tại sao Chúa Jêsus bị phán xét trên Thập-tự-giá?
Bởi vì Ngài nhận tất cả tội lỗi của chúng ta.

Chúa Jêsus đã chịu Báp-tem bởi Giăng Báp-tít và cất tất cả tội lỗi của thế gian và sau đó Ngài phán với người đàn bà rằng “Ta cũng không định tội ngươi”. Ngài đã không kết tội người đàn bà bởi vì Ngài đã gánh hết tất cả tội lỗi của thế gian tại sông Giô-đanh và chính Chúa Jêsus phải bị xét đoán vì tội lỗi này, chứ không phải người đàn bà.
Chúa Jêsus xóa tất cả tội lỗi của thế gian. Chúng ta có thể thấy sự sợ hãi khi Ngài bị đau đớn trên Thập-tự-giá vì ‘tiền công của tội lỗi là sự chết.’ Ngài cầu nguyện với Đức Chúa Trời ba lần trên núi Ô-li-ve để xin cất sự hình phạt này khỏi Ngài. Chúa Jêsus cũng có xác thịt của con người vì thế có thể hiểu được việc Ngài cũng sợ sự đau đớn. Chúa Jêsus phải đổ huyết để hoàn thành sự xét đoán.
Như của lễ chuộc tội trong Cựu Uớc phải đổ huyết để trả giá cho tội lỗi, Ngài phải hy sinh trên Thập-tự-giá. Ngài đã cất tất cả tội lỗi của thế gian đi rồi và bây giờ Ngài phải phó sự sống mình làm giá chuộc tội. Ngài biết rằng Ngài phải chịu xét đoán trước Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus không có chút tội lỗi nào trong lòng Ngài. Nhưng tất cả tội lỗi thế gian đã được chuyển qua cho Ngài trong lễ Báp-tem của Ngài, nên bây giờ Đức Chúa Trời đã phải xét đoán Con của Ngài. Vì thế trước nhất là sự công bình của Đức Chúa Trời được hoàn thành và sau đó Ngài ban cho chúng ta tình yêu của Ngài qua sự cứu rỗi. Vì thế Chúa Jêsus phải chịu xét đoán trên Thập-tự-giá.
“Ta cũng không định tội ngươi, Ta cũng không xét đoán ngươi.” Tất cả tội lỗi của chúng ta cố ý hay vô tình, biết hay không biết đều phải nhận phán xét của Chúa. 
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã không hình phạt chúng ta, mà Ngài đã hình phạt Chúa Jêsus là Đấng đã gánh lấy tội lỗi của chúng ta bởi Báp-tem của Ngài.  Đức Chúa Trời không muốn xét đoán tội nhân bởi vì tình yêu và sự thương xót của Ngài. Báp-tem và huyết trên Thập-tự-giá của Chúa Jêsus  là tình yêu cứu chuộc của Ngài cho chúng ta. “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).
Điều này cho chúng ta biết tình yêu của Ngài là thế nào. Ngài đã không kết tội người đàn bà bị bắt vì hành động ngoại tình. 
Bà ấy đã biết bà là một tội nhân vì bà bị bắt gặp trong lúc ngoại tình. Bà không chỉ có tội trong lòng mà còn mang tội trong thể xác. Không có cách nào để bà ấy có thể phủ nhận tội lỗi. Tuy nhiên, vì bà tin rằng Chúa Jêsus cất tất cả tội lỗi của bà nên bà được cứu. Nếu chúng ta tin vào sự cứu rỗi của Chúa Jêsus chúng ta sẽ được cứu. Hãy tin điều đó! Đó là điều tốt lành cho chúng ta.
 
Ai nhận phước nhiều nhất?
Những người không có tội.

Mọi người đều phạm tội, mọi người đều phạm tội ngoại tình, nhưng họ không bị phán xét vì tội lỗi của họ. Chúng ta đều phạm tội nhưng ai là người tin nhận sự cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus Christ thì không có tội trong lòng của họ. Ai là người tin nhận sự cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus là người hạnh phúc nhất. Phước hạnh nhất là họ được giải thoát khỏi tội của họ, là người công chính trong Chúa Jêsus. 
Đức Chúa Trời đã phán với chúng ta về phước lành trong Rô-ma 4:7, “Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, tội mình được che đậy!” Chúng ta đều phạm tội cho đến khi chết, chúng ta không xứng đáng trước mắt Chúa, chúng ta không hoàn hảo. Chúng ta luôn luôn phạm tội ngay cả khi chúng ta biết luật của Chúa. Chúng ta thật yếu đuối.
Nhưng Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta bằng phép Báp-tem và huyết của Con Một Ngài và phán với chúng ta, bạn và tôi, chúng ta không còn là tội nhân nữa, và bây giờ chúng ta là người công nghĩa trước mặt Ngài. Ngài phán với chúng ta rằng chúng ta là con cái của Ngài.
Phúc-âm của nước và Thánh Linh là Phúc-âm của sự cứu chuộc. Bạn có tin điều này không? Đối với những người tin thì Ngài gọi họ là công chính, là kẻ đuợc chuộc, là con cái của Ngài. Ai là người phước hạnh nhất trên thế gian này? Là người tin và được cứu chuộc bởi tin vào Phúc-âm thật. Bạn đã được cứu chuộc chưa?
Chúa Jêsus có bỏ sót tội lỗi nào của bạn không? Không, Ngài đã cất hết tội lỗi của bạn qua Báp-tem của Ngài. Hãy tin điều đó đi. Hãy tin và sẽ được cứu ra khỏi tất cả tội lỗi của bạn. Hãy đọc Giăng 1:29.
 
 
Tội Lỗi Như Được Quét Bỏ Bằng Cái Chỗi 
 
Chúa Jêsus đã cất đi bao nhiêu tội lỗi?
Tất cả tội lỗi của thế gian.

Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình thì nói rằng: Kìa, con chiên của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” (Giăng 1:29). 
“Kìa, con chiên của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!”
Giăng Báp-tít chuyển tất cả tội lỗi của thế gian qua Chúa Jêsus ở sông Giô-đanh. Qua ngày sau ông làm chứng rằng Chúa Jêsus là Chiên con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Ngài đã gánh tất cả tội lỗi của thế gian trên vai Ngài.
Tất cả tội lỗi của thế gian có nghĩa là tội của mọi người trên thế giới này đã phạm, từ khi sáng thế cho đến ngày cuối cùng. Khoảng 2000 năm trước, Chúa Jêsus đã  xoá bỏ tội trần gian và cứu chúng ta rồi. Như là Chiên con của Đức Chúa Trời, Ngài đã cất tất cả tội lỗi của chúng ta và chịu xét đoán vì chúng ta. 
Mọi tội lỗi mà con nguời đã phạm đã được chuyển qua cho Chúa Jêsus, Ngài trở thành Chiên con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian. 
Chúa Jêsus đã đến thế gian này như một người khiêm nhường, như môt người sẽ cứu tất cả tội nhân trên thế gian. Vì chúng ta yếu đuối, vì chúng ta độc ác, vì chúng ta ngu dốt, vì chúng ta phù phiếm và vì chúng ta không hoàn hảo. Tất cả những tội đó đã được xoá bỏ vì được đặt lên đầu của Chúa Jêsus bằng lễ Báp-tem của Ngài ở sông Giô-đanh. Và Ngài kết thúc nó bằng sự chết của thể xác Ngài trên thập-tự. Ngài bị chôn nhưng sau 3 ngày Đức Chúa Trời đã Phục sinh Ngài từ kẻ chết. 
Là Cứu Chúa của mọi tội nhân, là Đấng đắc thắng, là vị quan án, bây giờ Ngài đang ngồi bên hữu của Đức Chúa Trời. Ngài không cần phải cứu chuộc chúng ta lần nữa, tất cả những gì chúng ta phải làm là tin để được cứu. Sự sống đời đời đang chờ đợi những ai tin và sự hủy diệt đang chờ đợi những ai không tin. Không có sự chọn lựa nào khác.
Chúa Jêsus đã giải cứu tất cả chúng ta. Bạn là người hạnh phúc nhất thế gian. Tất cả tội lỗi bạn sẽ phạm trong tương lai bởi vì sự yếu đuối của bạn nhưng Ngài cũng đã cất chúng rồi.
Còn bất cứ tội lỗi nào trong chúng ta không? -Không.
Chúa Jêsus đã xóa bỏ tất cả phải không? -Vâng, Ngài đã làm thế.
Mọi người đều giống nhau. Không ai thánh khiết hơn người hàng xóm mình. Nhưng những kẻ đạo đức giả, họ nghĩ rằng  họ không phạm tội. Thật ra họ cũng là tội nhân. Thế giới này là một lầu xanh nuôi dưỡng tội lỗi.
Khi phụ nữ đi ra ngoài, họ sử dụng son môi màu đỏ, thoa phấn trên mặt, uốn tóc, mặc quần áo đẹp và đi giầy đẹp...... Người nam cũng đi cắt tóc, chải chuốt, mặc quần áo sạch, đeo cà vạt thời trang và đánh giầy bóng loáng.
Bên ngoài họ trông như hoàng tử và công chúa, nhưng ở bên trong họ hoàn toàn thô tục.
Có phải tiền làm cho con người hạnh phúc không? Có phải sức khoẻ làm cho con người hạnh phúc không? Không, chỉ sự cứu rỗi đời đời, sự tha thứ tất cả tội lỗi  làm cho con người hạnh phúc. Nếu một người bề ngoài nhìn thấy có vẻ hạnh phúc nhưng anh/ chị ấy vẫn mắc tội trong lòng của họ thì sẽ rất bất hạnh. Họ sống trong sợ hãi của sự phán xét.
Người được cứu rỗi dũng cảm giống như sư tử, ngay cả lúc họ như giẻ rách. “Cám ơn Chúa, Ngài đã cứu một tội nhân như con, Ngài đã xoá bỏ tất cả tội lỗi của con. Con biết con không tốt, nhưng con tin Ngài, Ngài cứu con! Con xin nhận sự cứu rỗi vĩnh cửu của Ngài. Vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời!”
Người được cứu thực sự là người hạnh phúc. Một người được phước bởi ân điển cứu chuộc là người có hạnh phúc thật.
Vì Chúa Jêsus là “Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi" đã xóa tất cả tội lỗi của chúng ta nên chúng ta vô tội. Ngài “đã xong” sự cứu rỗi vì chúng ta trên Thập-tự-giá. Tất cả tội lỗi của chúng ta bao gồm của bạn và của tôi cũng bao gồm cả "tội lỗi trong thế gian này’ nên tất cả chúng ta đã được cứu rỗi.
 
 
Do Ý Chỉ Của Đức Chúa Trời 
 
Chúng ta còn có tội trong lòng trước Chúa Jêsus không?
Không, chúng ta không có!

Bạn thân mến, người đàn bà phạm tội ngoại tình nhưng bà đã tin lời nói của Chúa Jêsus nên bà được cứu. Câu chuyện của bà ấy được chép lại trong Kinh Thánh vì bà ấy được phước trong sự cứu chuộc đời đời. Nhưng những thầy thông giáo và người Pha-ri-si giả hình đã trốn chạy khỏi Chúa Jêsus.
Nếu bạn tin Chúa Jêsus, đó là Thiên Đàng, nhưng nếu bạn xa cách Chúa Jêsus thì đó là địa ngục. Nếu bạn tin công việc của Ngài thì đó là Nước Trời, nhưng nếu bạn không tin công việc của Ngài thì đó là địa ngục. Sự cứu rỗi không nhờ vào sự cố gắng của mỗi người, nhưng sự cứu rỗi là công việc của Chúa Jêsus.
Hãy đọc Hê-bơ-rơ 10:1-10 “Vả, Luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được. Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao? Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi. Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được. Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi. Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội. Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến -Trong sách có chép về tôi -Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa. Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo Luật pháp dạy; sau lại nói: Đây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.Vậy thì, Chúa đã bỏ điều trước, đặng lập điều sau. Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.” (Hê-bơ-rơ 10:1-10).
 “Bởi ý muốn của Đức Chúa Trời” Chúa Jêsus đã dâng đời sống của Ngài để cất tội lỗi của chúng ta và để bị phán xét một lần đủ cả.
Vì vậy, chúng ta đã được thánh hóa. "Đã được thánh hóa" (Hê-bơ-rơ 10:10) được viết trong thì hiện tại hoàn thành. Nó có nghĩa là sự cứu chuộc cho chúng ta đã hoàn toàn hoàn tất, và không cần phải được thực hiện lại. Bạn đã được thánh hóa!
 “Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thứ, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời, từ rày về sau đang đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy. Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.” (Hê-bơ-rơ 10:11-14)
Các bạn đã được thánh hoá mãi mãi. Nếu ngày mai bạn phạm tội, thì bạn có trở thành tội nhân không? Chúa Jêsus có xoá bỏ tội đó chưa? Ngài đã xóa rồi. Ngài cũng đã xóa bỏ tội lỗi của tương lai.
“Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng: Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó, Sau những ngày đó, Ta sẽ để Luật pháp ta vào lòng chúng nó và ghi tạc nơi trí khôn, Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa. Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa” (Hê-bơ-rơ 10:15-18)
Cụm từ ‘sự tha thứ ’ có ý nghĩa là Ngài đã đền tội cho thế gian. Chúa Jêsus là Chúa Cứu Thế của chúng ta, là Cứu Chúa của tôi và của bạn. Chúng ta được cứu chỉ bởi tin vào Chúa Jêsus.  Đây là sự cứu rỗi của Chúa Jêsus, là ân điển và là quà tặng lớn nhất từ Đức Chúa Trời. Bạn và tôi, người được xóa bỏ tất cả tội lỗi là người hạnh phúc nhất thế gian này.